"Vì số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở; vì các phong trào cách mạng trên quê hương "Đồng Khởi" Trường luôn luôn cải tiến các mặt hoạt động"

Thứ năm, 18 Tháng 10, 2018 - 07:59

Góp phần tìm hiểu chủ trương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ năm 1986 đến nay

ThS. Nguyễn Thị Thùy Giao
Khoa Xây dựng Đảng
 

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một trong những vấn đề quan trọng và then chốt của Đảng cầm quyền góp phần làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, để giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dặn “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”1. Vì vậy, trong hơn 30 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng Đảng nhằm củng cố, kiện toàn, chỉnh đốn, đổi mới về nhận thức, tư tưởng, tổ chức Đảng. Mỗi nghị quyết, chỉ thị, kết luận là một bước phát triển mới trong công tác xây dựng Đảng cả về lý luận và thực tiễn.

Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở mục tiêu tổng quát được đề ra, Đại hội nhấn mạnh, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đó, Đảng ta phải thực sự trong sạch và vững mạnh trên tất cả các mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức. Trong công tác xây dựng Đảng Đại hội đã nghiêm túc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm về tư tưởng, tổ chức và nhấn mạnh phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, Đại hội đề ra 6 nhiệm vụ cụ thể về xây dựng Đảng như đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất cách mạng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách làm việc; nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng; tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng. Đây là những nội dung hết sức cơ bản và cụ thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới.

Đại hội VII của Đảng (6/1991) với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã tiếp tục đề cao nhiệm vụ xây dựng Đảng: “… Đảng phải được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức…”2, và “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo,… 3.

 Ngày 28/3/1992, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 01-NQ/TW về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay. Tháng 6/1992, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đề ra Nghị quyết về “Một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng” với mục tiêu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đáp ứng được tiến trình phát triển của cách mạng, Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII) (1/1994) đã chỉ ra 4 nguy cơ của cách mạng nước ta, đó là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệnh hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động “diễn biến hoà bình”của các thế lực thù địch cần phải được giải quyết ở tầm chiến lược, vừa cấp bách, vừa lâu dài, trong đó, điểm mấu chốt là phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Từ đó, Hội nghị đề ra các nhiệm vụ tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, đổi mới công tác cán bộ, tiếp tục chấn chỉnh hệ thống tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên,…

Tháng 6/1996, Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã rút ra 6 bài học chủ yếu, trong đó bài học: Tǎng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”4xác định Đảng phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của mình, khắc phục các khuyết điểm, các biểu hiện tiêu cực và yếu kém. Đảng phải mạnh từ Trung ương đến cơ sở, ở tất cả các cấp, các ngành. Thực hiện tinh thần Đại hội lần VIII của Đảng, ngày 02/02/1999, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (lần 2) đã ban hành Nghị quyết về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

  Tháng 6/2001, Đại hội lần thứ IX của Đảng đã tổng kết đánh giá, kiểm điểm 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, tổng kết 4 bài học trong 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, đề ra chủ trương, nhiệm vụ và điều chỉnh bổ sung, phát triển đường lối đổi mới trong thời kỳ mới. Về công tác xây dựng Đảng: “Những thành tựu và yếu kém trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng”5. Vì vậy, Đại hội chủ trương đẩy mạnh: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng”6 và quyết định toàn Đảng tiếp tục thực hiện các nghị quyết về xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII, tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhiệm vụ “Giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”7 cụ thể hóa thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới ở Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX.

Tháng 4/2006, Đại hội lần thứ X của Đảng với chủ đề: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”8. Đại hội thông qua Báo cáo về công tác xây dựng Đảng; đánh giá những hạn chế, yếu kém; phân tích các nguyên nhân khách quan và chủ quan; rút ra 6 bài học và 9 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt các phương hướng và mục tiêu tổng quát của công tác xây dựng Ðảng: “tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Ðảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng; xây dựng Ðảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân”9.

Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, trước những chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc của đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội trong nước và thế giới đòi hỏi Đảng phải có những phát triển mới về lý luận, những quyết sách lãnh đạo mới để đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên. Trong bối cảnh đó, Đại hội XI của Đảng (01/2011) đã đề ra nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đại hội xác định: “Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phải tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ với chất lượng và hiệu quả cao hơn; …; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức.…”10 và phải “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh….”11. Đại hội đề ra các nhiêm vụ, giải pháp cụ thể về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đều khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”12.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới và khắc phục những hạn chế, yếu kém của: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,... Nghị quyết đã nhấn mạnh cần tiếp tục thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng mà Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra, đồng thời tập trung thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách và 8 nhóm giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Như vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) thể hiện rõ sự quyết tâm, tính quyết liệt và tinh thần mới trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng.

Qua 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, trên cơ sở đánh giá giá chung về công tác xây dựng Đảng và việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI tại Đại hội lần thứ XII của Đảng (01/2016), đề ra phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian tới: “Phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI”13 và khẳng định “Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong sạch về đạo đức, nâng cao trình độ trí tuệ, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng”14. Như vậy Đại hội XII của Đảng có bước phát triển trong tư duy lý luận về xây dựng Đảng, Đại hội đã bổ sung xây dựng Đảng về đạo đức, đây là điểm mới, điểm nhấn rất quan trọng. Nó quyết định sức sống, sức chiến đấu của Đảng. Làm cho mục tiêu “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức” trở nên sáng rõ, hài hòa và bền vững, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền hiện nay.

Trên cơ sở xác định tính chất then chốt, sống còn của nhiêm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đại hội đề ra sáu nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ mới, trong đó nhiệm vụ đầu tiên là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ…”15 được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp Trung ương Đảng, ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ đã đánh dấu bước phát triển mới về quan điểm, chủ trương, giải pháp xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Nghị quyết đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với 27 biểu hiện suy thoái và đề ra 4 nhóm giải pháp thực hiện như về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; cơ chế, chính sách; kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Trong những nhiệm vụ đề ra, có những việc rất cấp bách, không thể trì hoãn mà đòi hỏi phải làm ngay, như: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp ủy các cấp chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; hay “Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp …”. Vì vậy, ngày 25/10/2017, Hội nghị Trung ương sáu, khóa XII, thông qua Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã đề ra các quan điểm chỉ đạo, trong đó khẳng định phải “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng” và đề ra nhiệm vụ, giải pháp chung đối với toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó nhiệm vụ đầu tiên đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam “Thực hiện Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của toàn hệ thống chính trị, …”. Tiếp đó, Ban Bí thư khóa XII ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 18/01/2018 về “Tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng; Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/02/2018 “về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”.

Có thể thấy, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, trải qua các kỳ Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là cơ sở để toàn Đảng đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng, góp phần quyết định nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới. Công tác xây dựng Đảng qua hơn 30 năm đổi mới, đã đạt được những thành tựu cơ bản về nhận thức lý luận và thực tiễn. Về mặt nhận thức lý luận: Đảng ta đã xác định rõ hơn, đầy đủ hơn nền tảng tư tưởng của Đảng, đẩy mạnh nghiên cứu nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới; Công tác tổ chức bộ máy các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả… Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn một số hạn chế như: Trên lĩnh vực nhận thức, lý luận về Đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, kiểm soát quyền lực… cần phải tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu, lý giải và dự báo những vấn đề thực tiễn đã và đang đặt ra.

Tóm lại, qua hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, không ngừng phát triển lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng. Trước những hạn chế của công tác xây dựng Đảng về lý luận và thực tiễn đã nêu ở trên, đòi hỏi Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, phải kiên trì, liên tục và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ then chốt về xây dựng Đảng trên các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức góp phần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

PHỤ CHÚ:                                                                                    

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.12, tr.503.
2 Lê Mậu Hãn: Các Cương lĩnh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia HN.1998, tr.62.
3 Lê Mậu Hãn: Các Cương lĩnh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia HN.1998, tr.134.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 55, Nxb.Chính trị quốc gia, HN.1996, tr.294.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, HN.2001, tr.51.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, HN.2001, tr.51.
7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, HN.2001, tr.53
8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, HN.2006, tr.11.
9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, HN.2006, tr.279.
10 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.186-187.
11 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.186-188.
12 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.88.
13 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, HN.2016, tr.199.
14 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, HN.2016, tr.357.
15 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, HN.2016, tr.217.

Tin khác