TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN BẾN TRE QUYẾT TÂM THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XI ĐẢNG BỘ TỈNH VÀ NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG!

Thứ sáu, 25 Tháng 6, 2021 - 04:29

Quan niệm duy vật về lịch sử trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.ăngghen

ThS. Nguyễn Trần Phương Hiền
Viên chức Khoa Lý luận cơ sở
 

Tác phẩm của Ph.Ăngghen: “Ông Đuyrinh đảo lộn khoa học” hay còn gọi là “Chống Đuyrinh” là một trong những tác phẩm có vị trí quan trọng trong hệ thống các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác, một tác phẩm có giá trị như là cuốn sách “gối đầu giường của mọi công nhân giác ngộ” về ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin: Triết học duy vật biện chứng; Kinh tế chính trị học mác-xít; Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Đây là tác phẩm kiểu mẫu về tính đảng, lập trường triết học duy vật triệt để của Ph.Ăngghen, có ý nghĩa to lớn trong những chỉ dẫn của Ph.Ăngghen đối với những người mác-xít thế hệ sau, những bài học về thế giới quan, phương pháp luận, thái độ văn hóa đối với những di sản tư tưởng của quá khứ cũng như đối với kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa Mác.

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ảnh hưởng của nhà triết học Đuyrinh (1833-1921) trong đảng dân chủ - xã hội Đức rất lớn, ca ngợi Đuyrinh là “người cộng sản mới”. Nhận thấy tác hại của việc truyền bá chủ nghĩa Đuyrinh trong phong trào công nhân và sự “tha hóa” tư tưởng ở một số đảng viên. Ph.Ăngghen đã bày tỏ sự cần thiết và ý định phê phán một số quan điểm sai lầm của Đuyrinh. Tác phẩm Chống Đuyrinh được viết từ cuối tháng 5/1876 và đến đầu tháng 7/1878 thì hoàn chỉnh.

Cũng như các tác phẩm khác của Ph.Ăngghen, Chống Đuyrinh với văn phong đơn giản nhưng rành mạch và hấp dẫn, làm sáng tỏ những vấn đề khoa học chung nhất. Đặc biệt, là những vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử trong tác phẩm luận chiến này.

Thứ nhất, theo Ph.Ăngghen phải nhìn nhận lịch sử một cách duy vật.

Nhìn nhận lịch sử một cách duy vật ở chỗ “những sự kiện mới buộc người ta phải nghiên cứu lại toàn bộ lịch sử từ trước tới nay và khi đó người ta thấy rằng toàn bộ lịch sử đã qua đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”[1]. Mỗi thời đại nhất định tạo ra những quan hệ kinh tế của thời đại, của giai cấp đó và cũng từ quan hệ kinh tế ấy giải thích toàn bộ kiến trúc thượng tầng gồm những thể chế pháp luật, chính trị cũng như quan niệm tôn giáo, triết học và các quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định.

Thứ hai, Ph.Ăngghen nêu lên quan niệm xuất phát của toàn bộ chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát từ sản xuất và tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ xã hội. Mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm và cùng sự phân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp, đều được quyết định bởi: Người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào. Nguyên nhân cuối cùng của mọi biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta mà là trong biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi.

Thứ ba, Ph.Ăngghen cũng nghiên cứu quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học, dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử.

Ph.Ăngghen đánh giá cao những mặt tích cực trong hệ thống lý luận của các nhà khoa học Xanhximông, Phuriê, Ôoen, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của chủ nghĩa xã hội khoa học không tưởng.

Xanhximông đã đề cập tới mâu thuẫn giữa người lao động và người ăn không ngồi rồi, tư tưởng mọi người phải lao động. Phuriê là người đầu tiên tuyên bố rằng một xã hội nhất định, trình độ giải phóng phụ nữ là cái thước đo tự nhiên của sự giải phóng nói chung. Ôoen cho rằng tính cách con người, một mặt là sản phẩm của cơ chế bẩm sinh của con người, mặt khác là sản phẩm của hoàn cảnh xung quanh con người trong suốt cuộc đời họ.

Thứ tư, về vấn đề đạo đức.

Ph.Ăngghen phê phán quan điểm của Đuyrinh cho rằng đạo đức là phạm trù vĩnh cửu, là chân lý tuyệt đối, đúng cho mọi thời đại, không có tính giai cấp. Ph.Ăngghen khẳng định rằng “Mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ… đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì tiêu biểu cho sự trỗi dậy chống lại sự thống trị nói trên…”[2]

Thứ năm, về vấn đề bình đẳng.

Nếu như Đuyrinh xem bình đẳng chỉ là bình đẳng của hai ý chí con người dường như bỏ qua điều kiện lịch sử cụ thể khi phân tích vấn đề bình đẳng. Thì Ph.Ăngghen khẳng định, “bình đẳng” là một sản phẩm của sự phát triển lịch sử, vì thế không có khái niệm bình đẳng trừu tượng, hay bình đẳng tuyệt đối nào. Bản thân con người đã khác nhau về sức khỏe, giới tính, hoàn cảnh vật chất.v.v. Đó phải là hai con người hoàn toàn thoát ly mọi hiện thực, thoát ly tất cả mọi quan hệ dân tộc, kinh tế, chính trị và tôn giáo tồn tại trên trái đất, thoát ly mọi đặc tính giới tính và cá nhân, đến mức là từ hai người ấy chỉ còn lại có cái khái niệm thuần túy là “người” và chỉ lúc ấy thì họ mới thật sự “hoàn toàn bình đẳng”.

Tình trạng bình đẳng và bất bình đẳng là phạm trù lịch sử do quan hệ nội tại của kinh tế quy định. Trong xã hội có giai cấp, bình đẳng chỉ gắn liền với quan hệ giai cấp, vấn đề bình đẳng chỉ được xem xét, trong những điều kiện lịch sử cụ thể, không có bình đẳng chung chung, trừu tượng. “Cho nên quan niệm về bình đẳng là cái gì cũng được, nhưng quyết không phải là một chân lý vĩnh cửu”. [3]

Thứ sáu, vấn đề tự do

Ph.Ăngghen cho rằng tự do có 3 nội dung. Một là, nhận thức được tính tất yếu; hai là vận dụng được tính tất yếu; ba là, chi phối được tính tất yếu.

Tự do là sản phẩm lâu dài của lịch sử và chỉ có thể đạt được một cách đầy đủ trong chủ nghĩa cộng sản, khi con người thực sự làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình, nghĩa là con người bước từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do. Do đó, tự do là ở sự chi phối chính bản thân và tự nhiên bên ngoài, dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên, tự do là sản phẩm tất yếu của lịch sử.

Và Ph.Ăngghen đi đến kết luận rằng: Giờ đây, một khi mà triết học, kinh tế chính trị học và xã hội xã hội chủ nghĩa đã lùi lại ở phía sau rồi và trước mắt chúng tôi là bức tranh toàn thân của nhà văn mà chúng tôi đã phải đánh giá từng quan điểm riêng biệt, thì những ý kiến liên quan đến ông ta như là một con người lúc này có thể là quan trọng nhất, bây giờ chúng tôi có thể tự cho phép mình lấy những phẩm chất cá nhân của ông ta để giải thích những điều lầm lạc và sự tự cao tự đại về khoa học của ông ta và có thể tóm tắt sự phán đoán chung của chúng tôi về ông Đuyrinh bằng những chữ sau đây: “Tình trạng không có khả năng chịu trách nhiệm vì bệnh cuồng thích làm vĩ nhân”.[4]

 Với nhận thức sâu sắc và triệt để trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng để giải thích những vấn đề xã hội được trình bày trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen có giá trị hết sức to lớn, là công cụ tư duy sắc bén, giải quyết những vấn đề nhận thức đặt ra trên mỗi bước đường quanh co, phức tạp trong hành trình sáng tạo đầy chông gai và gian lao. Đặc biệt là đối với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.

Hiện nay các thế lực thù địch vẫn luôn lợi dụng những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước cũng như những suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ đảng viên để chống phá, làm mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng tinh thần đấu tranh, phê phán mà Ph.Ăngghen sử dụng trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” là hết sức quan trọng và cần thiết. Điều này góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch./.

 


[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t. 20, tr. 201

[2]C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t. 20, tr. 137

[3]C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t. 20, tr. 154-155 

[4] Nguyễn Bằng Tường, tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 239

 

Thông tin phản bác: 

Tin khác