"Vì số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở; vì các phong trào cách mạng trên quê hương "Đồng Khởi" Trường luôn luôn cải tiến các mặt hoạt động"

Thứ năm, 18 Tháng 10, 2018 - 23:35

Nhận thức đúng “mối quan hệ lớn” giữa kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta để “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

Thạc sĩ Nguyễn Trúc Hạnh
Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị
 

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là quá trình phát triển liên tục; kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển KTTT của nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII về“Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn và giải quyết tốt “mối quan hệ lớn” giữa KTTT với định hướng XHCN ở nước ta, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong nội bộ và toàn xã hội, tránh những lệch lạc về quan điểm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện mô hình kinh tế này ở Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, cần nhận thức rõ KTTT định hướng XHCN là một mô hình kinh tế khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người, không phải là sự gán ghép chủ quan, và hoàn toàn có thể thực hiện được ở Việt Nam.

Xét về nguồn gốc, KTTT là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa. Trong lịch sử kinh tế thế giới, sự hình thành và phát triển của KTTT là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều thế kỷ, qua nhiều phương thức sản xuất khác nhau, đó là kết quả phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất, của xã hội hóa sản xuất, là tất yếu vận động từ nền sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn và đạt được sự hoàn thiện trong phương thức sản xuất TBCN. Như vậy, KTTT hoàn toàn không phải là thuộc tính riêng có của CNTB mà là thành tựu chung của nhân loại, do đó là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, là một thể chế kinh tế phổ biến đối với tất cả các chế độ chính trị xã hội nào mà ở đó sản xuất hàng hóa còn là tất yếu. Tuy nhiên, trong nền KTTT, quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường, nên KTTT không chỉ là “công nghệ”, là “phương tiện” để phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là những quan hệ kinh tế - xã hội, nó không chỉ bao gồm các yếu tố của lực lượng sản xuất, mà còn cả một hệ thống quan hệ sản xuất. Điều đó chứng tỏ, không có và không thể có một nền KTTT chung chung, thuần túy, trừu tượng tách rời khỏi hình thái kinh tế - xã hội, tách rời khỏi chế độ chính trị - xã hội và những điều kiện về lịch sử, văn hóa, dân tộc của một quốc gia. Trong đó tiêu chí cơ bản, đầu tiên để phân biệt các nền KTTT khác nhau chính là mục tiêu chính trị, mục tiêu kinh tế - xã hội mà nhà nước và nhân dân lựa chọn làm định hướng, chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế đó.

Có thể khẳng định rằng, dù chế độ TBCN hay chế độ XHCN đều đứng trước sự giới hạn về tài nguyên, hàng hóa và dịch vụ so với nhu cầu của con người, nên nền sản xuất tất yếu là sản xuất hàng hóa, và yêu cầu phát triển KTTT dưới chế độ TBCN và dưới chế độ XHCN là tất yếu như nhau, chỉ có điểm khác nhau căn bản chính là mục tiêu chính trị của mỗi nền kinh tế.

Mặt khác, thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh một cách khách quan, nền KTTT có nhiều mặt tích cực như: tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội hóa cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nâng cao năng lực quản lý, tạo điều kiện và thúc đẩy phát triển con người, đẩy mạnh xây dựng và phát huy dân chủ…Chính ưu thế này của KTTT đã dẫn đến nhiều quan niệm sai lầm cho rằng, nền kinh tế XHCN thua kém nền kinh tế TBCN. Thực chất, đây chính là ưu thế của nền KTTT so với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các quan niệm trên đã đồng nhất KTTT với kinh tế TBCN. Bản thân KTTT cũng bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết tật tự nó không khắc phục được như: suy thoái, khủng hoảng, thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, tàn phá môi trường… Dù ở chế độ chính trị nào, các quốc gia đều có nhu cầu, phấn đấu đạt đến những yếu tố tích cực của KTTT nhằm phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Nhưng việc có khắc phục hay không những khuyết tật của nền KTTT và khắc phục đến đâu phụ thuộc hoàn toàn vào bản chất chế độ chính trị ở mỗi đất nước.

CNTB đã phát huy tối đa những mặt tích cực của nền KTTT nhưng không khắc phục nổi những khuyết tật của nền kinh tế ấy. Chính bản chất chế độ TBCN đã đẩy tự do cá nhân đến mức cực đoan, con người trở nên ích kỷ, bất chấp mọi giá trị đạo đức xã hội. Trong nền KTTT đó, các doanh nghiệp TBCN tạo nên thành phần kinh tế TBCN giữ vai trò chủ đạo, chi phối; đồng thời Nhà nước bảo vệ chế độ sở hữu, quản lý, điều tiết nền kinh tế là những người đại diện cho quyền và lợi ích của Tư bản. Quan hệ sở hữu tư nhân TBCN làm cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội bị giới hạn bởi mục đích là tối đa hóa lợi nhuận của Tư bản, bóc lột giá trị thặng dư ngày càng nhiều…làm cho những khuyết tật của KTTT trầm trọng hơn và phát sinh những mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Như vậy, khuyết tật của KTTT chỉ có thể khắc phục được ở một chế độ xã hội tiến bộ, có bản chất ưu việt hơn chế độ TBCN. Chính vì thế, phát triển KTTT nhằm ngày càng hoàn thiện hơn kiểu tổ chức kinh tế - xã hội ấy vì sự tiến bộ của nhân loại là một yêu cầu khách quan đối với chế độ XHCN, không phải là sự gán ghép theo mong muốn chủ quan. Điều đó có nghĩa là KTTT định hướng XHCN hoàn toàn phù hợp quy luật khách quan và có thể thực hiện được ở Việt Nam.

Thứ hai, cần nhận thức rõ đặc trưng KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, đánh giá đúng thực trạng và xác định đúng nội dung phát triển nền kinh tế

Có thể nói rằng, KTTT định hướng XHCN ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của KTTT, tuân thủ những quy luật và nguyên tắc của thị trường vừa mang tính đặc thù là định hướng XHCN. Tính định hướng XHCN của nền KTTT không phủ nhận các quy luật KTTT, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa KTTT ở nước ta với các nước khác, đồng thời hạn chế những khuyết tật của KTTT mà chế độ TBCN không giải quyết được. Tính định hướng đó dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chế độ XHCN. Điều này đã được Nghị quyết số 11- NQ/TW khẳng định:“Nền KTTT định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT...”, “là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế...”.

Nghị quyết này đã làm rõ hơn một bước nội hàm hiện đại và hội nhập quốc tế, định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta:“Tính hiện đại và hội nhập quốc tế của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta thể hiện ở chỗ kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển KTTT của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn hơn 30 năm đổi mới; có hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến. Định hướng XHCN của nền kinh tế được nhất quán xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”.

Đồng thời, Nghị quyết đã xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng và mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường; nguyên tắc huy động và phân bổ các nguồn lực xã hội, theo đó: “Trong nền KTTT định hướng XHCN, Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường”.

Về vai trò của các thành phần kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN, Nghị quyết tiếp tục xác định: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”, và đề ra chủ trương: “Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ”.

Có thể khẳng định, phát triển KTTT ở nước ta là động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, là phương tiện để thực hiện xã hội hóa xã hội chủ nghĩa nền sản xuất, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Sự thành công của nền KTTT định hướng XHCN là ở chỗ đem thành quả của tăng trưởng kinh tế cao đến với quảng đại quần chúng bằng cách không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm tốt các vấn đề xã hội và công bằng, bình đẳng trong xã hội, chứ không vì lợi ích của thiểu số giai cấp thống trị. Chủ trương của Đảng ta là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Bởi vấn đề bảo đảm xã hội, công bằng, bình đẳng trong xã hội không chỉ là “phương tiện” để phát triển mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội XHCN.

Chúng ta cần nhận thức một cách đúng đắn, nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là một kiểu tổ chức của một xã hội đặc biệt, xã hội đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp, phải trải qua một quá trình chuyển đổi lâu dài từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cùng với nó là quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt cả trong nhận thức, lý luận và thực tiễn. Tính chất gay go thể hiện ở chỗ, chúng ta vừa phải chuyển đổi nền kinh tế từ không có thị trường sang xây dựng và phát triển KTTT từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện và vừa phải đảm bảo định hướng XHCN của nền KTTT ngay từ đầu quá trình chuyển đổi. Bản thân KTTT không tự nó định hướng theo mục tiêu chính trị nào mà phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ khác nhau. Vì vậy, muốn định hướng nền KTTT lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải có hai yếu tố cơ bản nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta và sự quản lý đúng đắn, có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước.

Vai trò của Đảng và Nhà nước ta trong phát triển KTTT định hướng XHCN đã được thực tiễn 30 năm đổi mới đất nước kiểm nghiệm, chứng minh bằng những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Đó là nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, liên tục nhiều năm, chính trị - xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được củng cố. Chúng ta đã rất chú trọng phát triển kinh tế đồng thời với phát triển con người, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, xóa đói, giảm nghèo có những thành công và những bước tiến lớn, chí số phát triển con người ở mức cao so với trình độ phát triển kinh tế…Tuy nhiên, KTTT định hướng XHCN ở nước ta là mô hình mang tính đặc thù với xuất phát điểm thấp, là quá trình vừa tìm tòi khảo nghiệm vừa xây dựng phát triển nên gặp không ít khó khăn. Đặc biệt, nền kinh tế thế giới hiện nay vận động trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra rất sâu sắc và nhanh chóng, thị trường là toàn cầu, định chế quản lý là WTO, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và định chế của các khối kinh tế khu vực, chủ thể kinh doanh chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia… càng đặt nền kinh tế nước ta đứng trước nhiều thách thức. Chính vì thế, chúng ta cần nhìn nhận đánh giá khách quan, KTTT nước ta đang ở đâu để có những giải pháp phát triển phù hợp. Có thể khẳng định rằng, nền kinh tế nước ta đã là nền KTTT nhưng còn ở trình độ thấp và chưa đồng bộ; các chủ thể kinh tế phát triển đa dạng nhưng quy mô và năng lực cạnh tranh thấp; quản lý nhà nước thông qua luật pháp và chính sách về cơ bản đã dung hòa với KTTT nhưng hiệu lực và hiệu quả còn thấp; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chưa bền vững; phân hóa giàu nghèo giãn ra, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về xã hội…

Vì thế, nhận thức đúng về “mối quan hệ lớn” giữa KTTT với định hướng XHCN ở nước ta, xác định đây là một mô hình kinh tế khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người, không phải là sự gán ghép chủ quan, và hoàn toàn có thể thực hiện được ở Việt Nam, có ý nghĩa rất lớn đối với việc hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN hiện nay. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ đặc trưng KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, đánh giá đúng thực trạng và xác định đúng nội dung phát triển nền kinh tế để có giải pháp và lộ trình thực hiện phù hợp, hiệu quả.

Tin khác