"Vì số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở; vì các phong trào cách mạng trên quê hương "Đồng Khởi" Trường luôn luôn cải tiến các mặt hoạt động"

Thứ bảy, 19 Tháng 1, 2019 - 22:39

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước từ bên ngoài

Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Thương
Khoa Nhà nước và pháp luật

Kiểm soát quyền lực nhà nước là hoạt động theo dõi thường xuyên, đánh giá và thực hiện những biện pháp tác động thông qua đó các chủ thể có thể ngăn chặn được các nguy cơ, hoạt động sai trái của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức trong quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu lực, hiệu quả cao nhất.

Ở Việt Nam, xét ở phạm vi diễn ra hoạt động, kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước và kiểm soát từ bên ngoài.

Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài là phương thức kiểm soát được tiến hành bởi các chủ thể nằm ngoài cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình tạo lập và đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động sử dụng quyền lực của bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức của nhà nước, bao gồm:

Kiểm soát của Đảng. Đây là phương thức kiểm soát của chủ thể lãnh đạo đối với nhà nước. Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, ở nước ta Đảng Cộng sản Việt Nam có có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng là hạt nhân của hệ thống chính trị, “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (1) Thông qua việc xây dựng, ban hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết; công tác cán bộ; hoạt động kiểm tra, giám sát; công tác tuyên truyền giáo dục, thuyết phục và vai trò nêu gương của đảng viên… sự lãnh đạo của Đảng trở thành nhân tố tiên quyết quyết định hiệu quả vận hành của cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là tuyệt đối và toàn diện trên tất cả mọi mặt hoạt động của nhà nước, trong đó không thể thiếu nội dung quan trọng của mọi chế độ nhà nước là vấn đề tổ chức và kiểm soát việc sử dụng quyền lực nhà nước – bộ phận cốt lõi của quyền lực chính trị. Mọi nguyên tắc tổ chức, vận hành, kiểm soát quyền lực từ trong nội bộ từng cơ quan nhà nước, trong mỗi hệ thống các cơ quan nhà nước và giữa nhánh của quyền lực nhà nước cũng như hoạt động kiểm soát của các chủ thể nằm ngoài bộ máy nhà nước đều phải đảm bảo tuân thủ theo đúng sự định hướng của Đảng. Ở khía cạnh thực hiện chức năng kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước với tư cách là một chủ thể, Đảng thực hiện vai trò của mình chủ yếu thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát đối với từng tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước và cá nhân mỗi đảng viên – những người đang được giao giữ các vị trí chủ chốt, hoặc đảm đương các chức trách, nhiệm vụ khác nhau trong bộ máy nhà nước để đảm bảo các tổ chức, cá nhân trên hoạt động đúng, đủ và chỉ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Trong điều kiện hiện nay, để Đảng kiểm soát có hiệu quả việc sử dụng quyền lực nhà nước: Thứ nhất, bằng các quy định của Đảng và quy định của pháp luật cần tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý. Trong cơ chế này, giới hạn quyền lực của Đảng là “lực lượng lãnh đạo”, có nghĩa Đảng không phải là Nhà nước, không bao biện, làm thay Nhà nước, không ra các văn bản quy phạm pháp luật như Nhà nước. Đảng ban hành các Đảng văn: Điều lệ, cương lĩnh, quy định... để lãnh đạo, kiểm soát hoạt động của Nhà nước và tập trung kiện toàn công tác cán bộ cho hệ thống chính trị. Thứ hai, Đảng tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm hay của các quốc gia, các địa phương trong việc tìm kiếm, hoạch định các chủ trương, định hướng lớn về kiểm soát có hiệu quả việc sử dụng quyền lực nhà nước. Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng chất các hoạt động: lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp; các tổ chức của Đảng và đảng viên phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Thứ ba, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, như Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đề ra nhằm xây dựng một lực lượng kiểm soát quyền lực nhà nước từ trong Đảng có năng lực và phẩm chất tốt.

Kiểm soát của Nhân dân. Đây là sự kiểm soát của người chủ quyền lực nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân được trao quyền, ủy quyền nhằm đảm bảo quyền lực của Nhân dân trao được sử dụng đúng mục đích. Với tư cách là chủ thể cao nhất và duy nhất của quyền lực nhà nước, Nhân dân thực hiện kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước có thể bằng cách trực tiếp tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước, tự mình thực hiện hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đối với những hoạt động, hành vi trái pháp luật của của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức của nhà nước trong quá trình thực thi công vụ  hoặc bằng hình thức gián tiếp thông qua hoạt động cơ quan dân cử các cấp và các tổ chức đại diện của Nhân dân (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và các tổ chức thành viên của Mặt trận). Nhân dân kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước dù là trực tiếp hay gián tiếp thì đó luôn là một đòi hỏi tất yếu khách quan. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, để Nhân dân kiểm soát chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả quyền lực nhà nước: Thứ nhất, tiếp tục thực hiện các giải pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về quyền làm chủ, bao gồm cả về kiến thức và ý thức thực hiện quyền làm chủ để Nhân dân sử dụng đúng và có hiệu quả quyền chủ thể tối thượng của quyền lực nhà nước, trước hết là quyền bầu cử, ứng cử, tham gia góp ý kiến vào các dự thảo văn bản pháp luật của nhà nước, quyền khiếu nại, tố cáo và giám sát đối với hoạt động của chính quyền mà trực tiếp là chính quyền cấp cơ sở… Đây không chỉ là đơn thuần chỉ là quyền mà nó còn là trách nhiệm thiêng liêng của một “người chủ”. Thứ hai, cán bộ, công chức của nhà nước, trước hết cần đổi mới các hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao đạo đức công vụ, văn hóa công sở, trong đó đặc biệt chú trọng nâng cao ý thức và thái độ phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước. Tiếp tục cụ thể hóa, làm rõ quyền làm chủ của Nhân dân trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” bằng các cơ chế hữu hiệu để Nhân dân tham gia ngày càng nhiều hơn, đầy đủ và thực chất hơn vào các công việc nhà nước, nhất là ở cấp cơ sở. Đổi mới cơ chế bầu cử, đảm bảo cho dân đề cử, ứng cử, lựa chọn các đại biểu thực sự là người đại diện cho dân. Có quy định cụ thể để Nhân dân thực hiện quyền bãi miễn những đại biểu dân cử không còn xứng đáng với niềm tin của dân. Thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch thông tin liên quan đến tổ chức hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức của nhà nước để Nhân dân kiểm tra, giám sát. Xử lý triệt để những hành vi cản trở thực hiện quyền làm chủ của dân trong thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, tiếp cận các thông tin hoạt động của nhà nước…

Kiểm soát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc “là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường sự đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (2). Là cơ quan đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọng trong tham gia cùng các chủ thể khác kiểm soát việc thực thi quyền lực của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức của nhà nước thông qua hai chức năng quan trọng là giám sát và phản biện xã hội. Thực hiện chức năng giám sát, Mặt trận Tổ quốc “theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị  việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức” (3). Thực hiện chức năng phản biện xã hội, Mặt trận Tổ quốc có quyền và trách nhiệm “nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị sự cần thiết; sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tính đúng đắn, khoa học, khả thi; đánh giá tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, Nhân dân, tổ chức đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước cùng cấp có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” (4). Để Nhân dân kiểm soát có hiệu quả quyền lực Nhà nước thông qua các tổ chức đại diện, cần: Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước và các tổ chức đoàn thể, trước hết là phía các cơ quan nhà nước về vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận trong tham gia xây dựng, giám sát và phản biện các hoạt động, chính sách, quy định của nhà nước, tránh hạ thấp hoặc xem nhẹ vai trò của Mặt trận trong giai đoạn dự thảo các quy định của nhà nước tại một số địa phương như hiện nay. Thứ hai, chú trọng nâng chất hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể - một chức năng tương đối mới và còn yếu so với chức năng giám sát. Muốn vậy, cần thiết phải tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể, trong đó đặt ra yêu cầu cán bộ trực tiếp làm công tác giám sát, phản biện phải nắm rõ nội dung, quy định pháp luật về hoạt động quản lý nhà nước của đối tượng được giám sát. Bên cạnh đó, cần tiếp tục đổi mới công tác quản lý, điều hành nội bộ của Mặt trận và đoàn thể các cấp, đơn giản hóa thủ tục, tinh giảm văn bản giấy tờ hành chính, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động để tập trung đi sâu, đi sát cơ sở, tiếp cận và nắm rõ tâm tư nguyện vọng của dân, từ đó có những đánh giá, chính kiến và kiến nghị về chính sách, quy định sát hợp thực tiễn. Mặt khác, cần phải đảm bảo về cơ sở vật chất, các trang thiết làm việc cần thiết, đặc biệt là đối với khối đoàn thể cấp xã (đang rất khó khăn về các điều kiện này). Ngoài các chủ thể và giải pháp phát huy vai trò các chủ thể nêu trên, trong kiểm soát quyền lực nhà nước cần thiết phải xem trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để báo chí và các cơ quan công luận hoạt động - đây được xem là nhánh “quyền lực thức tư” có vai trò quan trọng trong thực hiện hoạt động giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức của nhà nước.

Tóm lại, một trong những vấn đề trọng tâm của xây dựng nhà nước pháp quyền là tổ chức và kiểm soát có hiệu quả việc sử dụng quyền lực nhà nước. Cũng như các quốc gia, ở nước ta, việc kiểm soát quyền lực, trong đó có kiểm soát quyền lực nhà nước luôn được Đảng, Nhà nước xem là một trong những giải pháp chính yếu để đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Ngoài hình thức tự kiểm soát của bản thân bộ máy nhà nước, cần thiết phải tiếp tục phát huy chức trách của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các thành viên của Mặt trận và đặc biệt là nêu cao vai trò của Nhân dân trong thực hiện hoạt động kiểm soát đối với quá trình thực thi, sử dụng quyền lực của của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức của nhà nước nhằm đảm bảo quyền đó của Nhân dân trao thực sự thuộc về dân và chỉ nhằm mục đích phục vụ lợi ích cho dân./.

___________________________

Tài liệu tham khảo:
(1). Xem Điều 4, Hiến pháp 2013.
(2), (3), (4). Xem các Điều 1, 25, 32 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

Tin khác