"Vì số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở; vì các phong trào cách mạng trên quê hương "Đồng Khởi" Trường luôn luôn cải tiến các mặt hoạt động"

Thứ tư, 20 Tháng 2, 2019 - 19:30

Góp phần tìm hiểu quá trình phát triển tư duy của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1986 đến nay

Thạc sĩ Nguyễn Thị Thùy Giao
Khoa Xây dựng Đảng

 

Trong quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, cùng với đường lối xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta luôn đặt nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, quyết định sự sống còn của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Từ nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng của hai nhiệm vụ chiến lược trên, trải qua các kỳ đại hội, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển tư duy về hai nhiệm vụ đó nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.

Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã khởi xướng đường lối đổi mới nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân được Đại hội xác định một cách cụ thể trong mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng đất nước: Chúng ta phải thấu suốt quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”1.

Đến Đại hội lần thứ VII của Đảng năm 1991, quan điểm về việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân không chỉ quan tâm trên diện rộng mà trên toàn bộ lãnh thổ, để chủ động bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống, Đảng ta còn nhấn mạnh tới việc xây dựng các khu phòng thủ ở các địa phương; sự cần thiết phải xây dựng các công trình quốc phòng trọng điểm, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại với cơ cấu tổ chức và quân số hợp lý.

Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đã đề ra quan điểm chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc: “Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; kết hợp quốc phòng và an ninh với kinh tế; gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại; củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của cả hệ thống chính trị...”2.

 Đại hội lần thứ IX của Đảng tháng 4 năm 2001, đề ra chủ trương lớn về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong thời kỳ mới: “Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”; nhấn mạnh tới nhiệm vụ “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại”3. Những nội dung này được cụ thể hoá tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá IX thông qua Nghị quyết về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã nêu ba điểm mới cơ bản về quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc:

Một là, nhận thức mới về nội hàm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”4.

Hai là, đề ra 6 quan điểm chỉ đạo: “Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối và trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt; ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa nhằm khai thác mọi thuận lợi ở bên ngoài, quán triệt đường lối độc lập tự chủ, kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi” 5.

Ba là, nêu “cách nhìn nhận mới và thống nhất về vấn đề đối tác và đối tượng”6 để từ đó khắc phục cả hai khuynh hướng mơ hồ mất cảnh giác hoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương và xử lý các tình huống cụ thể.

 Đại hội lần thứ X của Đảng tháng 4 năm 2006, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ quan điểm nhận thức về xây dựng nền quốc phòng toàn dân: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng củng cố quốc phòng là trọng yếu, thường xuyên; thống nhất đánh giá đối tượng, đối tác trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; chủ động dự báo đúng các tình huống chiến lược, trên cơ sở nắm vững âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, những biến động của tình hình thế giới và trong nước tác động đến nhiệm vụ quốc phòng. Từ những yêu cầu mới, Đại hội đề ra những giải pháp chủ yếu để xây dựng nền quốc phòng toàn dân như: Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng tiềm lực quốc phòng; đẩy nhanh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; đẩy mạnh xây dựng lực lượng quốc phòng, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân theo yêu cầu mới; phối hợp các lực lượng, cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, chủ động ngăn ngừa và đối phó hiệu quả mọi tình huống.

Đại hội lần thứ XI của Đảng đã khẳng định được tầm quan trọng của công tác quốc phòng, an ninh: “Tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân đội nhân dân, công an nhân dân là nòng cốt”7. Để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, kế thừa nội hàm bảo vệ Tổ quốc đã được nêu trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI), Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ra Nghị quyết số 28-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới khẳng định: Giữ vững sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đổi với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước; đồng thời luôn nêu cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, xâm lược của các thế lực thù địch; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,... Đây là chủ trương đánh dấu quá trình phát triển tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp để giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đại hội lần thứ XII của Đảng với nội dung “Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định” là điểm mới và lần đầu được đưa vào chủ đề của Đại hội: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định”8 thể hiện bước tiến mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng theo hướng toàn diện, sâu sắc hơn về hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu của việc bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đồng thời cũng biểu thị rõ quyết tâm của Đảng trong xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trên cơ sở đó, Đại hội chủ trương “Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới”9 và nêu nhận thức mới về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; về vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; quan hệ đối tác, đối tượng có bước phát triển; bổ sung, hoàn thiện về chủ trương, giải pháp trong chiến lược quốc phòng, quân sự, chiến lược an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội như: “Thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố; sức mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được tăng cường. Kết hợp có hiệu quả giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm”10. Như vậy, trong nhận thức cũng như trong tổ chức thực tiễn, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng để tổ chức, lãnh đạo và chỉ đạo sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc tạo cơ sở chắc chắn nhất bảo đảm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Qua quá trình phát triển tư duy của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến nay, quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các giải pháp phù hợp để bảo vệ chủ quyền quốc gia và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội; thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được củng cố và gắn kết chặt chẽ hơn; chính trị, xã hội ổn định; an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm,… Bên cạnh những kết quả đạt được, tiềm lực quốc phòng, an ninh chưa đáp ứng được yêu cầu; bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều khó khăn, thách thức;…

Nhằm tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong thời gian tới cần:

Một là, thực hiện tốt “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và môi trường hòa bình để xây dựng, bảo vệ đất nước.

Hai là, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế, xã hội khu vực dọc biên giới và biển, đảo.

Ba là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để duy trì môi trường hòa bình, củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia, khẩn trương hoàn thành phân định biên giới.

Bốn là, thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn. Đẩy mạnh phòng, chống, đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội. Tăng cường an ninh, an toàn thông tin mạng. Bảo đảm trật tự, an toàn và giảm tai nạn giao thông.

Tóm lại, chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới là một bộ phận trọng yếu của chiến lược an ninh quốc gia, nhằm cụ thể hóa đường lối tăng cường quốc phòng, an ninh của Đảng; đó là một chiến lược tổng hợp, toàn diện, do Đảng và Chính phủ đề ra để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, tình hình thế giới, trong nước, “địch - ta” luôn biến đổi nhanh, phức tạp, khó lường và thế chiến lược quốc phòng, an ninh cũng luôn có sự điều chỉnh, bổ sung về mặt lý luận cho phù hợp nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp của quốc gia để góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

__________________________

Chú thích:
1ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật, H.1987, tr.38.
2Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. CTQG, H.1996, tr.119-120.
3 ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.CTQG, H.2001, tr.39-40.
4,5Ban tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, BCHTW Đảng khóa IX, Nxb. CTQG, H.2003, tr.45-46, 44.
6ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG - Sự Thật, H.2011, tr.44.
7ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, HN.2016, tr.9.
8,9ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr. 145,146.

Tin khác