"Vì số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở; vì các phong trào cách mạng trên quê hương "Đồng Khởi" Trường luôn luôn cải tiến các mặt hoạt động"

Thứ năm, 23 Tháng 11, 2017 - 18:08

Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Nguyễn Thị Ninh
 Phòng Đào tạo

Trên thế giới, hầu hết các nước đều nhấn mạnh đến lợi ích quốc gia - dân tộc khi thực thi chính sách đối ngoại. Đối với nước ta, lợi ích quốc gia - dân tộc được đặc biệt coi trọng trên cơ sở vừa phù hợp với xu thế chung, vừa tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu tối thượng của toàn Đảng, toàn dân ta nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay có nhiều khái niệm về lợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia - dân tộc. Ở mỗi quốc gia, việc hình thành lợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia - dân tộc là quá trình lịch sử lâu dài, phức tạp của việc kết hợp các nhân tố khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hóa,…Trong lịch sử, ngay từ khi bắt đầu xây dựng quan hệ quốc tế, lợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia – dân tộc đã được đề cao trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, “đến tận năm 1935, khái niệm lợi ích quốc gia mới chính thức được sử dụng như một thuật ngữ khoa học đầu tiên trong giới khoa học Mỹ. Cuốn “The International Relations Dictionary” xuất bản ở Mỹ đưa ra khái niệm: Lợi ích quốc gia là mục tiêu cơ bản và nhân tố quyết định cuối cùng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại. Lợi ích quốc gia là khái niệm có tính khái quát cao bao gồm những nhu cầu sống còn của quốc gia đó. Đó là tự bảo vệ, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quân sự và thịnh vượng về kinh tế”[1] . Tiếp cận về lợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia – dân tộc, Cựu Thủ tướng Anh Palmerston đã nhận định: “Nước Anh không có kẻ thù vĩnh viễn và đồng minh vĩnh viễn. Nước Anh chỉ có lợi ích là vĩnh viễn”.[2] Theo cuốn “Từ điển Thuật ngữ Ngoại giao Việt - Anh - Pháp” thì lợi ích quốc gia là “lợi ích chung của cộng đồng những người sống trên một đất nước, có chung nguồn gốc, lịch sử, phong tục, tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết”[3]. Còn theo bài viết “Lợi ích dân tộc” trên Trang thông tin điện tử Tạp chí Lý luận chính trị năm 2015 của GS, TS. Trần Hữu Tiến thì khái niệm lợi ích dân tộc “bao hàm trong đó tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia dân tộc có chủ quyền, thống nhất, độc lập, lãnh thổ toàn vẹn; cho sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp quốc gia, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia dân tộc”[4].  Thông qua những khái niệm trên thì chúng ta có thể nhận thấy rằng lợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia - dân tộc thường được xem là có chung nội hàm và có thể sử dụng thay thế lẫn nhau trong nhiều trường hợp. Nói về lợi ích quốc gia – dân tộc, chúng ta có thể hiểu như sau: “Lợi ích quốc gia thiên về đại diện lợi ích của giai cấp cầm quyền. Lợi ích dân tộc thường được hiểu là lợi ích của mọi người dân của một nước. Khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc có hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên. Với những điều kiện đặc thù của Việt Nam, nội hàm của các khái niệm này không khác nhau nhiều”[5] . Trong khuôn khổ của bài viết, tôi xin phép được gọi chung các thuật ngữ lợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia - dân tộc là lợi ích quốc gia - dân tộc.

Nhìn lại 30 năm đổi mới (1986-2016), Đảng ta đã rút ra năm bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ tư nhấn mạnh “Phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết”[6]. Đây là sự tổng kết có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự phát triển của tư duy mới về lợi ích quốc gia - dân tộc trong đường lối đối ngoại của Đảng.

Vấn đề lợi ích quốc gia - dân tộc đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm. Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập, trong “Chính cương vắn tắt” do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã đề ra: Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Điều đó có nghĩa, con đường cách mạng Việt Nam có hai giai đoạn với hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, và chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội và chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững được thành quả cách mạng giải phóng dân tộc. Với phương thức tập hợp lực lượng đúng đắn: “Ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù”[7], Đảng đã đoàn kết toàn dân trong và ngoài nước, nhận được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế trong đấu tranh giải phóng dân tộc và từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước yêu cầu cấp bách phải nhanh chóng vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, phá thế bao vây, cấm vận của chủ nghĩa đế quốc và sự chống phá của các thế lực thù địch, lợi ích quốc gia - dân tộc ngày càng được khẳng định rõ hơn. Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (1988) khoá VI đã khẳng định: “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”.[8] Như vậy, Đảng ta đã xác định lợi ích cao nhất của Tổ quốc lúc này là giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội. Việc Việt Nam xây dựng thành công và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là cách tốt nhất để góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập, dân chủ và phát triển. Điều đó tiếp tục được xác định rõ trong nhiệm vụ đối ngoại được đưa ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991): “Giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác nhất là hợp tác kinh tế, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.[9] Vào cuối năm 1991, sự kiện Liên Xô tan rã và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ đã tác động lớn tới Việt Nam. Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 3 khoá VII (6/1992) đã khẳng định rõ vị trí của lợi ích quốc gia – dân tộc trong chính sách đối ngoại Việt Nam, đó là “nhanh chóng ra khỏi khủng hoảng, giữ vững và tăng cường ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập và tự do của Tổ quốc”. Đại hội VIII có bước chuyển biến mạnh mẽ khi lợi ích quốc gia – dân tộc được đặt trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá “giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại”.[10] Hội nhập kinh tế quốc tế được xem là một bước quan trọng phục vụ cho mục tiêu phát triển của Việt Nam. Quan điểm này được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX kế thừa và phát triển: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia”.[11] Tiếp đó, “lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất”[12] được thể hiện rõ trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. Đến Đại hội XI, lợi ích quốc gia - dân tộc được đề cập chính thức trong văn kiện “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.”[13]. Việc nêu rõ mục tiêu đối ngoại vì lợi ích quốc gia, dân tộc trong văn kiện ĐH XI là sự khẳng định rõ hơn định hướng: Đảng ta hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc. Đến Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh: luôn coi lợi ích quốc gia - dân tộc là tối thượng, là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Như vậy, “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”[14] trở thành kim chỉ nam trong hoạt động đối ngoại đặc biệt là quá trình hội nhập quốc tế của toàn Đảng, toàn dân ta. Lợi ích quốc gia - dân tộc, đó là lợi ích tối cao của hơn 90 triệu nhân dân Việt Nam ở trong nước và hơn 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài. Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là cơ sở để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc và là điều kiện để thực hiện các lợi ích đó.

Nhìn lại hơn 30 năm đổi mới vừa qua, việc xác định đúng đắn nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc giúp Đảng và toàn dân ta nhận thức sâu sắc và xử lý hài hoà các mối quan hệ quốc tế. Tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế hiện nay diễn ra rất linh hoạt. Hợp tác và đấu tranh đan xen, tạo nên sự tuỳ thuộc lẫn nhau. Các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng bố, an ninh mạng, an ninh nguồn nước,...buộc tất cả các nước phải cùng nhau hợp tác. Do vậy, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là phương thức tốt nhất để chúng ta vừa xây dựng vừa bảo vệ Tổ quốc, thực hiện hiệu quả mục tiêu bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Chính vì vậy, trong hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Đảng ta khẳng định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế,…nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”[15]. Như vậy, lợi ích quốc gia - dân tộc mà toàn Đảng, toàn dân ta ra sức bảo vệ không chỉ phù hợp với quyền lợi của quốc gia - dân tộc mà còn hài hoà với lợi ích của các đối tác mà chúng ta hợp tác, phù hợp với luật pháp quốc tế. Những nước, những tổ chức khu vực và quốc tế tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác, ngược lại, những thế lực thù địch có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp như hiện nay, việc xác định chính xác về “đối tượng”, “đối tác” là rất khó khăn, đan xen, mang tính tương đối. Tiêu chí để xác định hướng hợp tác hay đấu tranh chính là lợi ích quốc gia - dân tộc chân chính. Chính vì vậy, Đảng ta luôn xuất phát từ nguyên tắc hợp tác để đấu tranh, tránh trực diện đối đầu, không để cho các thế lực thù địch đẩy vào thế bị cô lập, đặc biệt là tránh bị xung đột quân sự hoặc bị khiêu khích vũ trang. Do đó, chúng ta mới có thể tranh thủ, phân hóa, thu hẹp đến mức có thể đối với các thế lực thù địch hoặc không thân thiện. Đây là cơ sở quan trọng để chúng ta triển khai công tác đối ngoại, tạo ra những điểm đồng lợi ích trong hợp tác và đấu tranh khi lợi ích không song trùng, đấu tranh để hợp tác tốt hơn, bền vững hơn.

Nhờ đó, từ chỗ bị bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị, đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, quan hệ thương mại với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, đã thiết lập được quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước, đối tác toàn diện với 11 nước trong đó bao gồm cả 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (quan hệ đối tác toàn diện: Mĩ; quan hệ đối tác chiến lược Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp trong đó quan hệ với Nga và Trung Quốc đã nâng lên tầm đối tác chiến lược toàn diện). Bên cạnh đó, quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các trung tâm kinh tế - chính trị hàng đầu, các nước bạn bè truyền thống và đối tác tiềm năng ngày càng phát triển, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập đi vào thực chất. Việt Nam đã được 66 quốc gia công nhận có quy chế kinh tế thị trường. Chúng ta ngày càng trở thành thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế: không chỉ tham dự với tư cách là thành viên mà chuyển sang thế chủ động, tích cực góp phần vào việc xây dựng và định hình các quy tắc, luật lệ mới tại các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh trong đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác ở mức cao hơn như hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, ngày càng khẳng định vai trò và vị thế  tại các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như Uỷ ban Di sản thế giới, Hội đồng Nhân quyền, Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC), Hội đồng Chấp hành UNESCO, lần đầu tiên đại diện của Việt Nam được bầu vào Uỷ ban Pháp luật Quốc tế của Liên hợp quốc (ILC). Đến nay, công tác chuẩn bị cho năm APEC Việt Nam 2017 về cơ bản đã được hoàn tất, chủ đề mà Việt Nam đưa ra là “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung” đã nhận được sự quan tâm, hưởng ứng lớn của các nền kinh tế thành viên. Bên cạnh đó, chúng ta đã có những đóng góp tích cực vào hoạt động của Tổ chức các nước Cộng đồng Pháp ngữ, Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Diễn đàn Đối tác nghị viện Á - Âu (ASEP), Đại hội đồng Diễn đàn Nghị sĩ về giáo dục và phát triển (FASPPED),…Thông qua các hoạt động đối ngoại đa phương trên, những đề xuất, sáng kiến của Việt Nam được các thành viên tích cực hưởng ứng, là cách để chúng ta bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc vững chắc hơn.

Trong những năm tới, tình hình thế giới sẽ còn diễn biến rất phức tạp, khó lường, thuận lợi và thách thức đan xen.

Trước hết, về mặt thuận lợi: Một là, cách mạng khoa học và công nghệ, có bước tiến nhảy vọt cùng với toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tác động sâu sắc đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Điều đó sẽ mở đường cho quá trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, phục vụ thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hai là, khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn là trung tâm phát triển năng động của kinh tế thế giới, vai trò trung tâm kết nối của ASEAN trong các thiết chế khu vực tiếp tục được khẳng định. Là thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời là một thành viên của ASEAN, chúng ta có nhiều cơ hội giao lưu, hợp tác với các nền kinh tế năng động của khu vực và thế giới, nội lực của đất nước dần được nâng cao hơn, vai trò và vị thế Việt Nam trong khu vực và trên thế giới được phát huy mạnh mẽ hơn.

Song song với những thuận lợi trên thì chúng ta cũng nhìn nhận thấy khu vực Đông Nam Á, khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và trên thế giới nói chung đang gia tăng nguy cơ về xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động khủng bố. Các nước lớn tăng cường sức mạnh quân sự và cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt. Tranh chấp lãnh thổ, đặc biệt là tranh chấp trên biển Đông diễn biến phức tạp, tiếp tục gây ra những căng thẳng trong quan hệ khu vực và quốc tế. Sự cạnh tranh gay gắt về kinh tế, khoa học - công nghệ giữa các quốc gia tạo nên sức ép lớn đối với nước ta khi mà năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn thấp, trình độ khoa học - công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế.

Trong khi đó, ở trong nước, các thế lực thù địch hiện đang triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế để âm mưu chống phá cách mạng nước ta ngày một tinh vi hơn bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ nhằm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ vẫn còn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức. Đảng ta cũng tự nhìn nhận thẳng thắn: “Chưa có giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để hạn chế các tác động tiêu cực trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn có lúc chưa theo kịp những chuyển biến mau lẹ, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực. Sự phối hợp, kết hợp giữa các ngành, các địa phương còn thiếu chặt chẽ. Công tác nghiên cứu chiến lược, dự báo tình hình còn hạn chế”.[16]

Trước thực tế trên, để bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng, theo sự lãnh đạo của Đảng bởi “Đảng không có lợi ích gì khác ngoài việc theo đuổi lợi ích của quốc gia - dân tộc. Lợi ích quốc gia - dân tộc đã trở thành tiêu chí tối cao để đánh giá hiệu quả sự chỉ đạo của Đảng trong hoạch định và của toàn bộ hệ thống trong triển khai đường lối đối ngoại của Đảng”[17]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Hiện nay, cái bất biến chính là lợi ích quốc gia - dân tộc và đó là cơ sở gốc để chúng ta ứng xử một cách có nguyên tắc nhưng rất linh hoạt, vạn biến trong công tác đối ngoại nhằm đảm bảo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và xây dựng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

________________________________________

Chú giải:

[1] TS. Trần Nam Tiến: Lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 10 (71), H.2013, tr.24.
[2] Hồng Hà: Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của ta, Tạp chí Cộng sản H.1992, tr.12.
[3] TS. Dương Văn Quảng, TS. Vũ Dương Huân: Từ điển Thuật ngữ Ngoại giao Việt – Anh – Pháp, Nxb. Thế giới, H.2002, tr.63.
[4] GS, TS. Trần Hữu Tiến (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh): Lợi ích dân tộc, trang Thông tin điện tử Tạp chí Lý luận chính trị, thứ hai ngày 24 tháng 8 năm 2015.
[5] Đặng Đình Quý: Bàn thêm về lợi ích quốc gia dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam giai đoạn mới, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 1 (80), H.2010, tr.115.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb. Chính trị quốc gia, H.2015, tr.200.
[7] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2006, t.6, tr.18.
[8] Nguyễn Cơ Thạch: Những chuyển biến trên thế giới và tư duy mới của chúng ta, Tạp chí Quan hệ quốc tế, H.1990, số 1, tr.7.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, H.1991, tr.88.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1996, tr.84.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2001, tr.120.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2006, tr.114.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tr..235-236.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2016, tr.34.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.34-35.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.152-153.
[17] Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Đình Quý trả lời phỏng vấn báo chí về Hội nghị ngoại giao lần thứ 29.

 

Tin khác